Searching...
Sunday, February 5, 2017

THẾ GIỚI NGƯỜI ĐIÊN - KỲ II






-Dạ, em tên là Lê Viết Tuấn, em xin nhắc lại là Lê Viết Tuấn chớ không phải là Lê Việt Tuấn, sinh năm 1961, tại . . . Cha em là bác sĩ . . . Em bị rối lọan ngôn ngữ nên em tìm đến hội họa là để khẳng định lại giá trị trong ký tự ABC của Alexandr de Rhoes . . .
Mọi người cố nín cười. Tôi mời Tuấn điếu thuốc. Tuấn khom người đưa hai tay đỡ lấy và cảm ơn rối rít rồi cúi chào bước ra. Người Tuấn dường như lúc nào cũng co ro, khiêm tốn, trầm lặng với dáng đi lầm lũi, nhẫn nhục và chịu đựng trông thật đáng thương. Bác sĩ Nguyễn Gia Khanh, trưởng khoa họat động liệu pháp – Bệnh viện tâm thần Trung ương II – cho biết, cách đây hơn hai mươi năm, Tuấn đang học đại học năm thứ ba ngành mỏ-địa chất thì phát bệnh, bỏ nhà đi lang thang, miệng nói huyên thuyên về những ý tưởng lạ lùng không ai hiểu. Những lúc tĩnh táo, Tuấn hay kể với bác sĩ Khanh về những quyển sách triết học mà anh đã đọc thời sinh viên, trong đó có quyển tâm lý học của Sigmund Freud, quyển sách nầy có một chi tiết phân tích tâm lý của một chàng trai lọan luân với mẹ ruột, anh ta đã giết chết người cha và tự móc mắt mình. Nỗi ám ảnh tội ác và sự kinh dị ấy làm cho Tuấn bị căng thẳng thần kinh, anh đã ba lần nhảy lầu tự tử nhưng nhờ nhà thấp nên thóat chết, chỉ bị gảy tay.
Theo bác sĩ Khanh thì chứng bệnh của Tuấn gọi là ngộ độc triết học dẫn đến hoang tưởng bị tội. Cha mẹ Tuấn đã lần lượt qua đời, hiện Tuấn chỉ còn người anh đang sống ở Sài Gòn, nhưng vì không đủ điều chăm sóc nên ký gởi cho Tuấn ở lâu dài trong bệnh viện, thỉnh thỏang anh vào thăm và hay chở Tuấn đi chơi trong những ngày lễ tết. Ơ đây, Tuấn luôn được sự chia sẻ của bác sĩ Khanh và anh đã lao vào hội họa như một nhu cầu bộc lộ tâm tư, như tìm thấy một lối thóat nên không còn ý định tự tử như trước nữa.
Buổi chiều hôm ấy, chúng tôi xuống phòng hội họa thì gặp Tuấn đang ngồi vẽ, Tuấn vẽ một người con gái đang bấu víu vào người con trai. Tôi hỏi vẽ cái gì vậy, Tuấn nói: “ Hồi sáng em đọc báo thấy có một bài viết về sự đột quỵ nên em vẽ bức tranh nầy”. Chẳng ai hiểu gì về bức tranh và lời giải thích của Tuấn. Khi tôi bảo anh giải thích về những bức tranh của mình đang treo trên tường, Tuấn rất nhiệt tình. “ Bức tranh nầy có tên là lương tâm, em nhớ có một quyển sách nói về một nhạc sĩ người Nga kéo đàn violon, khi đàn bị đứt dây, ông ta móc ruột mình ra để làm dây đàn”. Lời giải thích của Tuấn chẳng ăn nhập gì với bức tranh vẽ nội tạng con người, trong đó cái bao tử được ráp lại bởi hai hàm răng lởm chởm. Tuấn nói tiếp: “Em cũng chẳng hiểu sao em vẽ người mà lại không có cáo đầu, có lẽ vì em là người điên”. Rồi Tuấn dẫn tôi sang bức tranh khác và giải thích : “Đây là hình con gà, em vẽ bức tranh nầy vào năm ất dậu, con gà tượng trưng cho sức mạnh để đá độ. Nhưng em lại nhớ đến nạn đói năm ất dậu 1945, miền Bắc của chúng ta chết hàng triệu người . . .”
Trong phòng treo hơn mười bức tranh của Tuấn, bức nào cũng đẹp, táo bạo và đầy ấn tượng. Thật khó mà hình dung rằng đây là tranh của một người điên.
Bệnh nhân thứ hai mà chúng tôi gặp ở đây – cũng rất tình cờ – lại có một câu chuyện hòan tòan ngược lại với Lê Viết Tuấn. Đó là Nguyễn Văn Hòang. Nhưng anh ta tự đặt cho mình biệt danh là Tony Hòang cho nó sang trọng hơn, phù hợp hơn với tính cách của một tay chơi. Trong bệnh án của Hòang có đọan: “ Khởi bệng từ tháng 11 năm 2002, mất ngủ, luôn nghĩ mình tài giỏi, tiêu xài hoang phí. Bệnh nhân đang học trường nhạc được  chín năm, đến năm cuối thì bỏ học. Sau đó làm nhiều việc linh tinh nhưng không làm gì đến nơi đến chốn, ăn xài phun phí, tự cho mình là giàu có, hay yêu sách, nếu không thỏa mãn thì đập phá đồ đạc trong nhà và hăm dọa đánh cha mẹ. Bệnh nhân không có công ăn việc làm nhưng đến các báo đăng quảng cáo tuyển nhân viên khiến gia đình phải giải quyết hậu quả . . .
Chúng tôi gặp Hòang đang làm việc trong khu vực sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, Hòang hỏi: “Anh là nhà báo ?”, tôi gật đầu, Hòang hỏi tiếp: “Anh vô đây làm phóng sự ?”. Thấy Hòang rất vui vẻ và tĩnh táo như một người bình thường, tôi hỏi: “ Em bị bệnh gì ?”, “Dạ, bệnh tiêu xài hoang phí”, “Xài như thế nào mà gọi là hoang phí ?”, “Mỗi đêm em xài hết tám triệu đồng”, “Xài cái gì mà dữ vậy ?”, “Thì nhà hàng, vũ trường, bao mấy em”, “Em có bồ không”, “Nhiều, khỏang tám cô”, “Mấy cô ấy có yêu em không”, “ Em cũng không biết mấy cổ yêu em hay yêu tiền của em”. Rồi Hòang kể tên mấy cô bồ của mình, nào MT, THV, TH, MA . . . tòan những diễn viên điện ảnh và người mẫu nổi tiếng. Hòang cho tôi một lô số điện thọai, địa chỉ nhà và nói: “ Vài hôm nữa em xuất viện, em sẽ chở anh đi chơi và bao anh trọn gói. Nhưng kỳ nầy mình chơi á hậu thôi chớ không thèm chơi hoa hậu, tốn kém lắm”.
Bác sĩ Khanh cho biết, bệnh của Hòang gọi là hoang tưởng tự cao dẫn đến rối lọan nhân cách, lúc nào cũng thấy mình hơn thiên hạ và cho rằng người khác phải có bổn phận cung phụng cho mình. Trong hồ sơ của Hòang có một mảnh giấy mà tình cờ bác sĩ Khanh phát hiện trong túi Hòang: “Tony Hòang, 37 tuổi, độc thân, cao 1,73m, nặng 70kg, trình độ đại học, nghề nghiệp: Kinh doanh địa ốc, điện thọai di động, bán vé máy bay trong và ngòai nước, làm visa, hộ chiếu, cho vay lãi suất 4%. Có nhà riêng, xe ô tô. Hiền, vui tính. Rất hân hạnh được làm quen với các cô”.
Cách đây mấy hôm, Hòang chuẩn bị xuất viện thì tình cờ bác sĩ Khanh phát hiện cũng trong túi của Hòang có mấy tờ giấy khác, trong đó Hòang kê ra chi tiết trong một năm Hòang nằm bệnh viện, tiền lương và tiền điện thọai hàng tháng mà mẹ và anh trai phải truy trả sau khi Hòang xuất viện là gần 40 triệu đồng, chưa kể tiền lì xì tết và các ngày lễ trong năm. Thế là, Hòang phải ở lại để điều trị tiếp.


Bác sĩ Khanh nói rằng, Hòang vẫn là kẻ đáng thương hơn đáng trách. Tuy mỗi người biểu lộ một tính cách khác nhau nhưng suy cho cùng, tất cả đều là nạn nhân của một căn bệnh ngặt nghèo, bi kịch cho đời họ và làm khổ người thân.
Chúng tôi gặp chị Lan, nhà ở Gò Vấp vào thăm đứa con trai tên Võ Văn Khôi, 26 tuổi. Khôi to lớn như kẻ bị béo phì, ngồi gục gặt, mắt đờ đẫn vì dùng thuốc an thần liều cao để chặng đứng cơn kích động. Chị Lan buồn bã kể rằng, vợ chồng chị có hai đứa con, một gái một trai, cả hai đều rất ngoan và học giỏi. Khôi lớn lên trong sự đầm ấm của gia đình, đặc biệt là tình thương của bà ngọai. Ngọai đưa đón Khôi đi học từ nhỏ cho đến hết cấp hai. Thậm chí những ngày Khôi đi học võ, ngọai dắt Khôi đến nơi rồi ngồi chờ ngòai cổng cho đến hết giờ vì bà không yên tâm với môn học dễ xảy ra tai nạn. Thế rồi một hôm, bà ngọai về quê và chết ở quê. Trước sự mất mác mà không lý giải được, Khôi bị mắc bệnh trầm cảm, rồi từ trầm cảm trở nên cộc cằn, hung hăng và nổi lọan. Mỗi khi lên cơn, gặp ai Khôi cũng đánh, bất kể đó là cha mẹ ruột của mình. Mỗi ngày Khôi bắt cha phải chở đi đúng năm tiếng đồng hồ vòng quanh thành phố, phải đi đúng tuyến đường và ghé đúng những quán cà phê mà Khôi quy định. Suốt mười năm qua, Khôi đã hành hạ cha mình như thế. Mỗi năm Khôi vào bệnh viện một lần, mỗi lần vài tháng, nhưng vừa xuất viện thì bệnh lại tái phát.
Hai mẹ con ngồi cạnh nhau, Khôi cao to nhưng vô hồn như tượng gỗ, chị Lan tiều tụy, héo gầy, khắc khổ nhưng vẫn nhân hậu, ngọt ngào: “Có những lần hai vợ chồng tôi đưa cháu vào đây, tôi ở lại, ảnh ra về. Bất chợt cháu nhìn theo cha rồi khóc nấc lên, cháu nói: “ Cha đã già, tóc đã bạc, đã khổ vì con quá nhiều, vậy mà con cứ đày đọa cha”. Lúc ấy tôi cứ tưởng đâu cháu tĩnh. Nhưng không ngờ khi về nhà thì chứng nào tật nấy”.
Chị Lan vừa nói vừa nhìn con. Tôi nghĩ đến sự chịu đựng mười năm, có lẽ chị đã khô nước mắt !

( CÒN TIẾP )
Sài Gòn, tháng 3-2007
VÕ ĐẮC DANH



0 nhận xét:

Post a Comment

 
Back to top!